IC 74LS138 là gì, thông số kỹ thuật, thay thế tương đương, sơ đồ chân, cách sử dụng, ứng dụng, datasheet và nhiều thông tin hữu ích khác Tài liệu về Linh kiện điện tử. Tìm hiểu về IC 7805. LM7805 là IC điều chỉnh điện áp đầu ra cố định. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về sơ đồ chân LM7805, tương đương, datasheet, ứng dụng, tính năng và các thông tin hữu ích khác về vi mạch này. Về phía Đỗ Mỹ Linh, người đẹp chỉ biết cười chết trước màn bóc mẽ nhau của cặp đôi Bình An - Phương Nga Trước cách xưng hô hơi sai sai của ông xã, Á hậu Phương Nga đã nhanh chóng chấn chỉnh: Bé bỏng gì, người ta sắp là gái có chồng rồi . 1. Thế kỷ thứ III và thứ IV. Ngay từ những thế kỷ đầu, vấn đề chân lý trong Kinh Thánh cũng đã được đặt ra vài lần, vd. Celsus hay Porphyrius tìm những mâu thuẫn trong Kinh Thánh để kết luận Kinh Thánh không có giá trị. Các vị Giáo phụ đã nỗ lực chứng minh ngược lại Hôm nay, Hãy cùng Hưng Thịnh tìm hiểu Ngứa lòng bàn chân là điềm gì, hên hay xui, tốt hay xấu trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : “Ngứa lòng bàn chân là điềm gì, hên hay xui, tốt hay xấu” SCR là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Silicon Controlled Rectifier”, hay còn được gọi là Thyristor, là một linh kiện bán dẫn ba chân có vai trò như một khóa điện tử có điều khiển. Thyristor được sử dụng rất nhiều trong các bo mạch điện tử điều khiển. liDK5y. Tồn tại Chân linh là các sinh vật có từ thời hỗn mang, sức mạnh cao nhất tại Linh giới - Chân long rồng - Thiên phượng phượng hoàng - Du thiên Côn bằng đại bàng - Ngũ sắc Khổng tước chim công 5 màu - Sơn nhạc Cự viên khỉ - Kim Ô quạ - Tà long rồng Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted. Bàn chân pedis được giới hạn bắt đầu từ dưới hai mắt cá tới đầu các ngón chân gồm có hai phần mu chân và gan chân. Bàn chân và cổ chân tạo nên một cấu trúc giải phẫu phức tạp gồm có 26 xương hình dạng không đều nhau, 30 khớp hoạt dịch, hơn 100 dây chằng và có 30 cơ tác động lên các phân đoạn. Tất cả các khớp bàn chân phải tương tác hài hòa và kết hợp với nhau để cơ thể con người vận động đi lại một cách trơn tru. Cấu tạo xương bàn chân Bàn chân có thể được chia thành ba vùng. Bàn chân sau rearfoot bao gồm xương sên và xương gót; bàn chân giữa midfoot bao gồm xương ghe, 3 xương chêm và xương hộp; và bàn chân trước gồm các xương bàn ngón và các xương ngón chân. Khớp Hầu hết các vận động ở chân xảy ra tại ba khớp hoạt dịch khớp cổ chân talocrural, khớp dưới sên subtalar và khớp giữa cổ chân midtarsal. Bàn chân di chuyển trong ba mặt phẳng hầu hết các vận động xảy ra trong chân sau. Khớp cổ chân talocrural là một khớp bản lề một trục được tạo bởi xương chày và xương mác khớp chày mác và xương chày và xương sên khớp chày sên. Khớp này là một khớp vững với xương chày và xương mác tạo thành một ổ sâu cho ròng rọc xương sên như một lỗ mộng. Phần trong của lỗ mộng là mặt trong của mắt cá trong, phần ngoài của lỗ mộng là mặt trong của mắt cá ngoài. Mắt cá ngoài xuống thấp hơn mắt cá trong và bảo vệ các dây chằng bên ngoài của cổ chân và chống lại di lệch ra ngoài. Xương chày và xương mác vừa khít trên ròng rọc xương sên là một xương có phần trước rộng hơn phần sau. Sự khác nhau về độ rộng của xương sên cho phép một ít chuyển động dạng khép của bàn chân. Khớp dưới sên Subtalar Joint hoặc sên-gót là khớp giữa xương sên và xương gót. Xương sên và xương gót là các xương chịu trọng lượng lớn của bàn chân và tạo thành bàn chân sau. Xương sên nối hai xương cẳng chân với bàn chân và được xem là viên đá đỉnh vòm của bàn chân. Xương gót mang lại một cánh tay đòn cho gân Achilles và phải đáp ứng được lực tải tác động lớn vào lúc đánh gót và các lực lượng cường độ lớn từ cơ bụng chân và cơ dép. Xương sên khớp với xương gót ở ba mặt, trước, sau và trong, với mặt lồi của xương sên khớp với mặt lõm xương gót. Có 5 dây chằng mạnh và ngắn nâng đỡ khớp dưới sên, hạn chế vận động của khớp này. Trục xoay của khớp dưới sên chạy xéo từ phía sau bên mặt lòng đến phía trước trong mặt mu xương sên. Trục xấp xỉ 42° ở mặt phẳng trán và 16° ở mặt phẳng ngang Vận động xảy ra theo ba mặt phẳng và được gọi là quay sấp và quay ngửa. Quay sấp xảy ra trong một hệ thống chuỗi mở với bàn chân hở mặt đất, bao gồm vặn ngoài mặt phẳng trán xương gót, dạng mặt phẳng ngang, và gập mu bàn chân mặt phẳng trước sau. Quay ngửa ngược với quay sấp, với gót vặn trong mặt phẳng trán, khép mặt phẳng ngang và gập lòng mặt phẳng trước sau ở tư thế không chịu trọng lượng Vặn trong và vặn ngoài của khớp dưới sên có thể đo được bằng góc tạo thành giữa cẳng chân và xương gót. Vặn trong khớp dưới sên có thể từ 20°đến 30°. Vặn trong sẽ giảm đáng kể ở những người bị thoái hóa khớp cổ chân. Vặn ngoài trung bình khoảng 4-5°. Hầu hết bệnh nhân viêm khớp, vặn ngoài quá mức xương gót tạo nên biến dạng bàn chân sau vẹo ngoài. Các khớp khác của bàn chân Các khớp khác của bàn chân giữa là các khớp trượt với vận động trượt và xoay nhỏ. Bàn chân trước gồm các xương bàn ngón và xương ngón chân cùng với các khớp giữa chúng. Chức năng của bàn chân trước là duy trì vòm ngang giữa bàn chân, vòm dọc trong, và giữ sự linh hoạt của xương bàn ngón thứ nhất. Mặt phẳng của bàn chân trước ở đầu xương bàn ngón được tạo bởi các xương bàn ngón thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Mặt phẳng này vuông góc với trục dọc của gót chân trong sự chỉnh thẳng bàn chân trước bình thường. Đó là vị trí trung gian của bàn chân trước. Nếu mặt phẳng này bị nghiêng vào trong mặt trong nâng lên thì gọi là bàn chân trước ngửa hoặc varus, ngược lại nếu mặt phẳng nghiêng ra ngoài gọi là bàn chân trước sấp hoặc valgus. Nếu xương bàn ngón thứ nhất nằm dưới mặt phẳng của các xương bàn đốt kế cận, gọi là hàng đầu gập lòng, thường kết hợp với bàn chân hõm. Khớp cổ- bàn ngón chân tarsometatarsal là các khớp trượt, cho phép chuyển động hạn chế giữa các xương chêm, xương hộp với các xương bàn ngón. Các vận động khớp cổ-bàn ngón chân thay đổi hình dạng của vòm ngang bàn chân. Khi xương bàn ngón chân thứ nhất gập và dạng và xương bàn đốt thứ năm gập và khép, vòm sâu hơn hoặc tăng độ cong. Tương tự như vậy, nếu xương bàn ngón thứ nhất duỗi và khép và xương bàn ngón thứ năm duỗi và dạng, vòm bẹt xuống. Gấp và duỗi ở các khớp cổ- bàn ngón chân cũng góp phần vào động tác vặn trong và vặn ngoài của bàn chân. Khớp giữa xương chêm đầu và xương bàn ngón thứ nhất vận động nhiều, cho phép xương bàn ngón thứ nhất chịu trọng lượng và tạo lực đẩy tới. Các khớp cổ- bàn ngón chân được làm vững bởi các dây chằng mu chân trong và ngoài. Các khớp bàn –ngón chân metatarsophalangeal là khớp hai trục, cho phép gập duỗi và dạng khép. Những khớp này chịu tải trong giai đoạn đẩy tới của dáng đi sau nhấc gót chân và bắt đầu gấp lòng bàn chân, gấp các ngón chân. Duỗi ngón chân nhiều hơn ngón tay do đòi hỏi của giai đoạn đẩy tới của dáng đi. Các khớp gian đốt ở bàn chân tương tự bàn tay, là khớp một trục cho phép gấp duỗi ngón chân. Các ngón chân ít chức năng hơn ngón tay bởi vì chúng thiếu một cấu trúc đối diện như ngón tay cái. Các cung vòm của bàn chân Các xương cổ chân và bàn ngón tạo nên ba vòm, hai vòm chạy theo chiều dọc và một vòm chạy ngang bàn chân. Cơ cấu này tạo nên một hệ thống hấp thụ sốc đàn hồi. Khi đứng, một nửa trọng lượng được chịu bởi gót chân và một nửa bởi các xương bàn ngón ở trước với một phần ba trọng lượng này là ở xương bàn ngón thứ nhất. Vòm dọc bên ngoài được hình thành bởi xương gót, xương hộp, xương bàn ngón thứ tư và thứ năm. Vòm này tương đối bằng phẳng và ít di động. Bởi vì nó thấp hơn so vòm dọc trong, vòm ngoài có thể chạm đất và chịu một phần trọng lượng trong vận động, do đó đóng vai trò nâng đỡ trong bàn chân. Vòm dọc trong chạy từ xương gót đến xương sên, ghe, chêm và ba xương bàn ngón đầu tiên. Nó linh hoạt và di động hơn so với vòm ngoài và đóng một vai trò quan trọng trong việc hấp thụ lực sốc khi tiếp xúc với mặt đất. Mặc dù vòm dọc trong thay đổi khi vận động, nó thường không chạm đất, trừ khi một người có bàn chân phẳng chức năng. Vòm dọc trong được nâng đỡ bởi xương sên, dây chằng gót- sên, dây chằng dọc gan chân, và mạc gan chân fascia plantar, một mạc xơ dày cày từ xương gót đến khớp bàn- ngón chân. Vòm ngang được tạo bởi các xương cổ chân nêm vào và nền các xương bàn ngón. Các xương hoạt động như các thanh xà nâng đỡ vòm này, dẹt xuống khi chịu trọng lượng và có thể chịu ba đến bốn lần trọng lượng cơ thể. Dựa vào chiều cao của vòm trong có thể chia làm bàn chân bình thường, hõm vòm cao và bẹt bàn chân bằng. Bàn chân hõm có phần giữa bàn chân không chạm đất, có khả năng hấp thu lực kém. Ngược lại, bàn chân bẹt, thường tăng vận động, có mặt lòng bàn chân tiếp đất nhiều nhất và làm yếu mặt trong. Loại bàn chân này thường kết hợp với quay sấp quá mức suốt thì tựa của dáng đi. Cơ góp phần quan trọng vào cấu tạo bàn chân con người Có hai mươi ba cơ tác động lên cổ chân và bàn chân, 12 có nguồn gốc ngoài bàn chân và 11 bên trong bàn chân. Tất cả 12 cơ bắp bên ngoài, ngoại trừ cơ bụng chân, cơ dép, và cơ gan chân plantaris, tác dụng lên cả các khớp dưới sên và khớp giữa bàn chân. Các cơ của bàn chân đóng một vai trò quan trọng trong việc chịu các tác động có cường độ rất cao. Chúng cũng tạo ra và hấp thụ năng lượng trong khi vận động. Các dây chằng và gân cơ lưu trữ một phần năng lượng cho sự trở lại sau đó. Ví dụ, gân Achilles có thể lưu trữ 37 jun J năng lượng đàn hồi, và các dây chằng của vòm chân có thể lưu trữ 17 J khi bàn chân hấp thụ các lực và trọng lượng cơ thể. Cơ ở mu chân Chỉ có một cơ nhỏ ở mu chân, cơ duỗi các ngón chân ngắn extensor digitorum brevis, và cơ này tương đối ít quan trọng. Nguyên uỷ mặt trên và ngoài của phần trước xương gót, ở phía trước-trong mắt cá ngoài. Bám tận cơ chia thành bốn bó đến bám vào nền đốt gần ngón cái và vào gân đi vào các ngón chân II, III và IV của cơ duỗi các ngón chân dài. Bó đi vào ngón chân cái được gọi là cơ duỗi ngón cái ngắn extensor hallucis brevis. Động tác hỗ trợ cơ duỗi ngón cái dài và cơ duỗi các ngón chân dài trong việc duỗi các ngón chân I - IV. Các cơ ở gan chân Có bốn lớp cơ ở gan chân. Các cơ này đã được biệt hoá để giúp giữ vững các vòm gan chân và làm cho con người đứng vững trên mặt đất hơn là để thực hiện các chức năng tinh tế như các cơ ở bàn tay. Lớp cơ nông lớp thứ nhất gồm ba cơ, tất cả đều đi từ phần sau cùa xương gót tới các ngón chân. Tính từ trong ra ngoài, ba cơ của lớp nông là cơ giạng ngón cái, cơ gấp các ngón chân ngắn và cơ giạng ngón út. Cả ba cơ này hợp thành một nhóm đóng vai trò giữ vững các vòm gan chân và duy trì độ lõm của gan chân. Lớp cơ giữa lớp thứ hai gồm hai cơ nội tại của gan chân là cơ vuông gan chân và các cơ giun. Lớp này còn có gân của cơ gấp các ngón chân dài và cơ áp ngón cái dài từ cẳng chân đi xuống. Gân cơ gấp các ngón chân dài bắt chéo mặt nông của gân cơ gấp ngón cái dài và là chỗ bám các cơ nội tại của gan chân. Lớp cơ sâu lớp thứ ba bao gồm các cơ ngắn của ngón cái và ngón út nằm ở nửa trước gan chân cơ gấp ngón cái ngắn, cơ khép ngón cái, cơ gấp ngón út ngắn. Lớp cư gian cót lớp thứ tư gồm ba cơ gian cốt gan chân và bốn cơ gian cốt mu chân. Chúng chiếm những khoảng nằm giữa các xương đốt bàn chân. Về chi phối thần kinh, cơ gan chân, cơ giang ngón cái. cơ gấp ngắn ngón cái và cơ giun I do thần kinh gan chân trong chi phối, tất cả các cơ còn lại do thần kinh gan chân ngoài chi phối. Mạc mạc sâu của gan chân dày lên tạo cân gan chân plantar aponeurosis. Cân gan chân có hình tam giác và chiếm vùng trung tâm của gan chân. Phần mạc phủ các cơ giạng của ngón cái và ngón thứ hai thì vẫn mỏng. Đỉnh của cân gan chân bám vào củ gót. Nền của cân gan chân chia ra ở ngang gốc các ngón chân thành 5 chẽ, mỗi chẽ lại tách đôi để bao quanh các gân gấp và cuối cùng hoà lẫn với bao sợi gân gập. Tư các bờ trong và ngoài của cân gan chân, nơi nó liên tiếp với mạc phủ các cơ giạng ngón cái và ngón út, có các vách sợi chạy lên vào gan chân và tham gia vào sự hình thành các ngăn mạc của gan chân. Bàn chân góp phần đáng kể vào chức năng của toàn bộ chi dưới. Bàn chân nâng đỡ trọng lượng của cơ thể cả khi đứng và đi lại chạy nhảy. Bàn chân phải là một phần tiếp xúc lỏng lẻo với các bề mặt không bằng phẳng khi nó tiếp xúc. Ngoài ra, khi tiếp xúc với mặt nền, nó đóng vai trò giảm sốc với các lực phản ứng nền. Vào cuối thì tựa, nó phải là một đòn bẩy cứng để đẩy tới hiệu quả. Cuối cùng, khi bàn chân bị giữ cố định trong thì tựa, nó phải hấp thụ lực xoay của chi dưới. Tất cả những chức năng này của bàn chân xảy ra trong một chuỗi động đóng khi nó đang chịu các lực ma sát và phản ứng từ mặt đất hoặc bề mặt khác. Tư thế khớp khóa của cổ chân là gập mu. Cổ chân được làm vững bởi rất nhiều dây chằng bên trong và ngoài, làm hạn chế gập mu và gập lòng, vận động ra trước và ra sau của bàn chân, nghiêng của xương sên và vẹo trong và vẹo ngoài. Sự ổn định của cổ chân phụ thuộc vào hướng của các dây chằng, loại lực tải và tư thế của cổ chân vào lúc chịu tải. Mặt ngoài của khớp cổ chân dễ bị tổn thương hơn, chiếm 85% bong gân cổ chân. Trục xoay của khớp cổ chân là một đường thẳng giữa hai mắt cá chạy chéo so với xương chày. Gập mu bàn chân xảy ra ở khớp cổ chân khi bàn chân di chuyển về phía cẳng chân ví dụ khi nâng các ngón chân và bàn chân khỏi sàn hoặc là cẳng chân di chuyển về phía bàn chân ví dụ khi hạ thấp người xuống với bàn chân cố định trên sàn nhà. Tầm vận động ở khớp cổ chân thay đổi với lực tải lên khớp. Tầm vận động gấp mu bàn chân bị hạn chế bởi tiếp xúc xương giữa cổ xương sên và xương chày, bao khớp và các dây chằng, và các cơ gấp lòng bàn chân. Tâm vận động gấp mu trung bình là 20°, dù dáng đi bình thường chỉ cần khoảng 10° gấp lòng. Khi ngồi xổm gấp mu có thể đạt hơn 40 °. Gấp lòng bàn bị giới hạn bởi xương sên và xương chày, các dây chằng và bao khớp, và các cơ gấp mu. Tâm vận động trung bình của gấp lòng bàn chân là 50°, trong dáng đi bình thường tầm gấp lòng từ 20° đến 25°. Chức năng chính của khớp dưới sên là hấp thụ sự xoay của chi dưới trong thì tựa của dáng đi. Với bàn chân cố định trên bề mặt và xương đùi và xương chày xoay trong vào lúc bắt đầu của thì tựa và xoay ngoài vào cuối thì tựa, khớp dưới sên hấp thụ sự xoay qua các hoạt động đối nghịch quay sấp và quay ngửa. Khớp dưới sên hấp thụ sự xoay bằng cách hoạt động như một bản lề sửa đổi, cho phép xương chày xoay trên một bàn chân chịu trọng lượng. Chức năng thứ hai của khớp dưới sên là hấp thụ sốc. Điều này cũng có thể được thực hiện bằng cách quay sấp. Các vận động khớp dưới sên cũng cho phép xương chày xoay trong nhanh hơn so với xương đùi, tạo điều kiện mở khóa ở khớp gối. Khớp giữa bàn chân Midtarsal Joint hoặc ngang bàn chân có ý nghĩa chức năng lớn nhất. Nó thực sự bao gồm hai khớp, khớp gót-hộp ở mặt ngoài và khớp sên-ghe ở mặt trong bàn chân. Kết hợp lại, chúng tạo thành một khớp hình chữ S với hai trục, chéo và dọc. Có năm dây chằng nâng đỡ vùng này của bàn chân. Chuyển động tại hai khớp này góp phần vào vặn trong inversion và vặn ngoài eversion, dạng và khép, gập mu và gập lòng ở các khớp cổ chân và dưới sên. Vận động ở khớp giữa bàn chân phụ thuộc vào vị trí khớp dưới sên. Khi khớp dưới sên ở tư thế quay sấp, hai trục của khớp giữa cổ chân song song, mở khóa khớp, tạo nên tăng vận động ở bàn chân như trong giai đoạn chạm gót và bàn chân bằng của dáng đi. Điều này cho phép bàn chân rất di động để hấp thụ lực sốc khi tiếp xúc với mặt đất và cũng thích ứng với các bề mặt không bằng phẳng. Khi khớp dưới sên quay ngửa, hai trục chạy qua khớp giữa cổ chân hội tụ, khóa khớp lại và tạo nên độ cứng của bàn chân cần thiết cho tạo lực hiệu quả trong giai đoạn sau của thì tựa tạo một đòn bẩy cứng. Gấp lòng bàn chân được sử dụng để đẩy cơ thể về phía trước và đi lên, góp phần đáng kể vào các lực đẩy khác được tạo ra trong giai đoạn nhấc gót và nhấc ngón. Các cơ gấp lòng bàn chân cũng hoạt động ly tâm để làm chậm một bàn chân đang gập mu hoặc để trợ giúp trong việc kiểm soát chuyển động về phía trước của cơ thể, đặc biệt là xoay ra trước của xương chày trên bàn chân. Cơ chủ đạo chủ yếu là cơ bụng chân và cơ dép. Bởi vì cơ bụng chân cũng đi qua khớp gối và là cơ gập gối, nó có tác dụng gấp lòng hiệu quả nhất khi gối duỗi và cơ tứ đầu đùi được hoạt hóa. Các cơ gấp lòng bàn chân khác chỉ tạo khoảng 7% lực gấp lòng bàn chân cơ mác dài, mác ngắn là quan trọng hơn, cơ gan chân gầy, gấp ngón cái dài, cơ chày sau ít hơn. Gấp mu bàn chân Gấp mu chủ động trong thì đu đưa của dáng đi để đưa bàn chân hở lên khỏi nền và trong thì tựa để để kiểm soát hạ bàn chân xuống sàn nhà sau khi chạm gót. Cơ gấp mu chính là cơ chày trước có kích thước lớn, gân cơ dài và có thuận lợi cơ học lớn nhất. hỗ trợ cho cơ này là các cơ duỗi ngón dài, duỗi ngón cái dài và cả cơ mác ba. Vặn ngoài eversion được tạo ra chủ yếu bởi các nhóm cơ mác. Những cơ này nằm bên ngoài so với trục dọc của xương chày. Chúng là các cơ quay sấp ở tư thế không chịu trọng lượng bởi vì chứng vặn ngoài xương gót và dạng bàn chân trước. Cơ mác dài là cơ vặn ngoài mà cũng có vai trò kiểm soát lực ép lên các vận động xương bàn ngón thứ nhất và các vận động tinh vi hơn của xương bàn ngón thứ nhất và ngón chân cái. Vặn trong inversion Các cơ vặn trong của bàn chân là các cơ nằm ở bên trong so với trục dọc của xương chày. Những cơ này làm xương gót vặn trong và bàn chân trước khép. Vặn trong chủ yếu là do cơ chày trước và cơ chày sau, với sự trợ giúp của các cơ gấp ngón cái, gấp các ngón chân dài. Cơ duỗi ngón cái dài kết hợp với cơ gấp ngón cái dài để khép bàn chân trước trong động tác vặn trong. Vận động mạnh nhất cổ bàn chân là gập lòng do các cơ gập lòng có khối cơ lớn. Các cơ gập lòng được sử dụng nhiều hơn để chống lại trọng lượng và duy trì tư thế đứng thẳng, kiểm soát hạ người xuống đất, bổ trợ cho đẩy người tới. Ngay cả khi đứng, các cơ gấp lòng, đặc biệt là cơ dép, cũng co để kiểm soát tư thế. Gập mu chân không thể tạo lực lớn vì khối cơ nhỏ hơn và ít được sử dụng trong các hoạt động hàng ngày. Lực các cơ gập mu chỉ bằng khoảng 25 % lực các cơ gập lòng bàn chân. Sự đảo nghịch hoạt động cơ Các cơ gấp lòng bàn chân hoạt động như là cơ duỗi gối. Một chức năng quan trọng của các cơ gấp lòng bàn chân là làm vững gối ở tư thế duỗi. điều này có thể thấy rõ ở những bệnh nhân yếu các cơ gập lòng. Không có hoạt động phanh hoặc giảm tốc cần thiết do cơ ở cổ chân, di dưới tiến tới thông qua gập mu bàn chân quá nhanh và quá nhiều trong giai đoạn giữa đến sau của thì tựa. Như hình vẽ cơ dép bị yếu khi đứng, cẳng chân xoay ra trước chuyển lực của trọng lượng cơ thể ra sau so với trục xoay trong- ngoài ở khớp gối. Sự dịch chuyển này tạo nên lực xoay gấp gối đột ngột và thường không ngờ tới. Cổ chân bị gập mu, trong trường hợp này, tạo khuynh hướng gập gối. Một chức năng quan trọng của cơ dép là kháng lại xoay ra trước quá mức của cẳng chân, do đó giữ cho trọng lượng cơ thể ngay trên hay ngay trước trục xoay trong- ngoài của khớp gối. Với bàn chân được giữ cố định ở nền, gấp lòng bàn chân chủ động ở cổ chân có thể duỗi gối. Cơ dép đặc biệt phù hợp với vai trò làm vững duỗi gối, vì phần lớn là sợi cơ chậm, kháng mỏi mệt. Co cứng cơ dép quá mức tạo khuynh hướng duỗi gối mạnh và kéo dài, dần dần có thể góp phần tạo biến dạng gối quá ưỡn. Các vận động tại gối và bàn chân cần phải được phối hợp để tối đa hóa sự hấp thụ các lực và giảm thiểu căng các liên kết của chi dưới. Ví dụ, trong thì tựa của dáng đi, quay sấp và ngửa ở bàn chân phải tương ứng với xoay ở đầu gối và hông. Vào lúc chạm gót, bàn chân thường tiếp xúc với mặt đất ở một tư thế hơi quay ngửa, và bàn chân được hạ xuống mặt đất với gấp lòng. Khớp dưới sên bắt đầu quay sấp lập tức, kèm theo xoay trong và gấp ở khớp gối và háng. Quay sấp tiếp tục cho đến khi nó đạt đến tối đa vào khoảng 35% đến 50% của thì tựa, và điều này tương ứng với gấp và xoay trong tối đa ở khớp gối. Ở giai đoạn bàn chân bằng ở thì tựa, khớp gối bắt đầu xoay ngoài và duỗi, và bởi vì bàn chân vẫn giữ cố định trên mặt đất, các vận động này được truyền đến xương sên, làm khớp dưới sên đáp ứng bằng quay ngửa. Nhiều tổn thương của chi dưới được cho là có liên quan với sự thiếu đồng bộ giữa những vận động này của khớp gối và khớp dưới sên. Tâm linh là một khái niệm rộng, thay đổi theo hoàn cảnh, với nhiều sắc thái có thể cùng tồn tại. Thông thường, nó đề cập đến tiến trình tôn giáo tái khám phá dạng thức nguyên gốc của con người. Ngoài ra tâm linh còn là những hiện tượng kỳ bí, nằm ngoài phạm vi hiểu biết thông thường của con người như ngoại cảm, thần giao cách cảm, lên đồng, ma nhập, mộng du, bóng đè, thôi miên, chữa bệnh bằng tâm linh,... mà khoa học chưa khám phá, giải thích và chứng minh được.[1][2][3][4] Tâm linh còn là một loại hiện tượng tinh thần đặc trưng ở con người, biểu hiện ở một số người như là giác quan thứ sáu, có cơ sở là vết tích của "logic trực giác xuất thần" của loài động vật cấp thấp để lại trong quá trình phát triển thai người[5].Nội dung chính Show Mục lụcTừ nguyênSửa đổiCác góc nhìnSửa đổiTôn giáoSửa đổiKhoa học xã hộiSửa đổiKhoa học cơ bảnSửa đổiY sinh họcSửa đổiCác hiện tượngSửa đổiMa nhậpSửa đổiMộng duSửa đổiBóng đèSửa đổiThôi miênSửa đổiNgoại cảmSửa đổiThần giao cách cảmSửa đổiChữa bệnh bằng tâm linhSửa đổiCác hiện tượng khácSửa đổiỨng dụngSửa đổiCông nghệ thần giao cách cảmSửa đổiTìm mộ liệt sĩSửa đổiChữa bệnh bằng tâm linhSửa đổiNghiên cứuSửa đổiĐánh giáSửa đổiXem thêmSửa đổiChú thíchSửa đổiVideo liên quan Thomas Aquinas phát triển tâm linh chiêm niệmTượng Phật đứng, Gandhara, đầu Công linh thường mạnh nhất vào lúc 18 giờ 55 phút ngày 13 tháng 6 âm lịch vì đó là lúc giác quan vũ trụ phát triển cực độ. Và sử sách có ghi những người sinh vào đúng ngày giờ này rất hiếm. Khi được sinh ra vào ngày giờ này, theo Phật giáo Ấn Độ thì người đó được ban phát quyền năng để trấn áp ma quỷ và có cuộc sống sung túc vì được ơn trên ban xuống ''giải nghiệp''. Những người sinh vào giờ tâm linh thường được ban phước lành và không có thế lực tâm linh nào có thể xâm lục1 Từ nguyên2 Các góc Tôn Hồi giáo và Kitô Phật Khoa học xã Khoa học cơ Y sinh học3 Các hiện Ma Mộng Bóng Thôi Ngoại Thần giao cách Chữa bệnh bằng tâm Các hiện tượng khác4 Ứng Công nghệ thần giao cách Tìm mộ liệt Chữa bệnh bằng tâm linh5 Nghiên cứu6 Đánh giá7 Xem thêm8 Chú thíchTừ nguyênSửa đổiTheo Từ điển tiếng Việt, do Hoàng Phê chủ biên, tâm linh có hai nghĩa tiên tri và tinh thần. Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, tâm linh là trí tuệ tự có bên trong lòng linh cũng được dùng theo nghĩa tín ngưỡng, có thể do các thuật ngữ tiếng Anh spiritism thông linh luận hoặc spiritualism duy linh luận, một quan niệm xem hồn người chết có thể liên lạc với người sống qua giới đồng cốt. Về mặt khoa học, đó là giả thuyết cần bác góc nhìnSửa đổiTôn giáoSửa đổiHồi giáo và Kitô giáoSửa đổiĐạo Hồi và đạo Kitô giáo đều thờ đấng tối cao là thánh Ala, là Thiên chúa, "Thượng đế". Thánh Ala và Thượng đế sinh ra vũ trụ vạn vật và con người trong vòng 7 ngày. Ngày thứ nhất tạo nên sự sáng và sự tối, đặt tên sự sáng là ngày, sự tối là đêm. Ngày thứ hai tạo ra không gian, quen gọi là trời. Ngày thứ ba tạo nên đất, nước, cây cỏ. Ngày thứ tư tạo ra các tinh tú trên trời làm cơ sở phân chia ngày, đêm, năm, tháng, thời tiết, trong đó có hai vì tinh tú lớn là Mặt Trời cai trị ban ngày và Mặt Trăng cai trị ban đêm. Ngày thứ năm tạo nên muôn vật chim trên trời, cá dưới nước, muông thú trong rừng. Ngày thứ sáu tạo nên con người. Ngày thứ bảy sau khi hoàn chỉnh công việc Sáng tạo của mình, Thiên chúa nghỉ còn gọi là ngày chúa nhật hay chủ nhật. Còn Thượng đế của đạo Hồi cũng tạo ra Vũ trụ muôn vật và con người trong 6 ngày, nhưng trật tự. có khác với đạo Kitô, ngày thứ bảy công việc hoàn thành cả thế giới, bao gồm mọi trật tự và những sự hài hòa không thể phá vỡ được.[5]Đạo Kitô hay đạo Hồi cũng cho rằng con người có hai phần là thể xác và tâm hồn, "linh hồn" sau khi chết được thánh Ala hay Thiên chúa phán xét được lên thiên đường hay xuống địa ngục với những quy định ngặt nghèo về lối sống đạo đức trong quá trình sống giữa người với người, người với muôn vật trên Trái Đất này.[5]Phật giáoSửa đổiĐạo Phật cho rằng các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không phải do một đấng thiêng liêng nào tạo ra bằng những phép màu nhiệm, mà nó được tạo nên bởi những phần vật chất nhỏ bé nhất của vũ trụ. Phần nhỏ bé nhất đó được gọi là "bản thể", là thực tướng của sự vật, hiện tượng. Vũ trụ của Phật là vũ trụ động theo một chu trình "thành trụ hoại không" hay "sinh trụ hoại diệt" và đều bị chi phối bởi quy luật nhân duyên, một sự vật hiện tượng không phải do một nhân duyên mà do nhiều nhân duyên, hệ thống nhân duyên trong vũ trụ là vô tận, sách Phật gọi là "trùng trùng duyên khởi".[5]Đạo Phật cho rằng con người gồm một phần là sinh lý là thần sắc hình tướng giới hạn trong không gian bằng xương, thịt, da, được tạo thành bởi bốn yếu tố vật chất, sách Phật gọi là tứ đại địa, thủy, hỏa, phong, phần thứ hai là phần tâm lý hay tinh thần, ý thức gồm "thụ uẩn", "tướng uẩn", " hành uẩn", "thức uẩn" được biểu hiện bằng "thất tình " bảy lĩnh vực tình cảm ái, ố, hỉ, nộ, lạc, ai, dục.[5]Con người sau khi chết không phải là hết, sách Phật gọi là "chấp đoạn". Sau khi chết nhân quả người đó tiếp tục đầu thai vào kiếp khác, sách Phật gọi là "chấp thường", được giải thích bằng các thuyết nghiệp báo - luân hồi[5].Khoa học xã hộiSửa đổiKhoa học đã phát triển, đặc biệt là sinh học đã xác lập được bản đồ gen "mật mã di truyền", nắm được quy luật phát triển sinh học nhưng cũng chưa phải đã hiểu hết, trái lại, việc điều khiển các quy luật đó còn rất hạn chế.[5] Khoa học ngày nay chưa giải đáp và cũng chưa dự báo được cho con người những điều mà họ cần biết về sự ra đời của họ, những điều trong hiện tại và dự báo tương lai của họ. Vì thế họ tìm hiểu ở khoa học cổ xưa, một khoa học không dựa trên thực nghiệm mà chỉ là kết quả của chiêm nghiệm không chứng minh mà chỉ công nhận, khoa học đó là kết quả của "trực giác xuất thần" của một số người nào đó[5].Khoa học cơ bảnSửa đổiCơ thể con người hoạt động được là nhờ những hoạt động tương tác giữa chất không sống vô cơ và chất sống hữu cơ, các chất không sống tức là các nguyên tố cũng bị chi phối bởi một trong bốn lực trên. Trong cơ thể sống không xảy ra phản ứng hạt nhân nên không chịu ảnh hưởng của hai lực hạt nhân yếu và mạnh. Lực hấp dẫn luôn tác động đối với con người, giữ cho con người đứng thẳng trên trái đất, có lẽ không có quan hệ đến các hiện tượng tâm linh, nó có thể tác động đến hoạt động sinh học và hoạt động ý thức khi con người lên vũ trụ, thoát khỏi sức hút của trái đất, trong trạng thái mất trọng lượng. Còn lại lực điện từ có lẽ có thể có tác động đến hệ thống chất không sống, qua đó liên quan đến hệ thống sống mà chủ yếu là hoạt động của hệ thần kinh thực vật[5]Các nhà lý thuyết vật lý sinh học giải thích hiện tượng tâm linh như thần giao cách cảm là khả năng phát và thu thông tin qua bức xạ điện từ vùng radio phản xạ trên tầng điện ly. Đọc ý nghĩ của người khác là đọc tín hiệu điện từ của xung thần kinh chạy trong mạng nơron. Theo cách giải thích của các nhà vật lý sinh học thì mọi hiện tượng tâm linh có thể giải thích chủ yếu là sự tương tác của những người có khả năng dị thường với bức xạ tàn dư của các sự vật, hiện tượng[5]Y sinh họcSửa đổiKhó có thể nói ý thức có trước khi đứa bé chào đời, hay khi còn là phôi thai. Với ý thức, chỉ có thể có trong quá trình phát triển trưởng thành mà do tương tác giữa cơ thể sinh vật đứa bé lớn lên đến tuổi trưởng thành rồi thoái triển khi tuổi già để rồi qua đời với môi trường tự nhiên, cũng như môi trường xã hội nhân văn, mới hình thành đầy đủ ý thức của con người.[5]Động vật cấp thấp có thể giao tiếp với nhau hay với môi trường nhờ các sóng như sóng siêu âm phát ra ở loài dơi, sóng điện từ với một số loài cá, sóng âm tần thấp của loài voi... Đây là cơ sở có thể giúp ta lý giải các hiện tượng tâm linh.[5]Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển phôi thai người, về mặt khoa học người ta cũng đã thấy phôi người phát triển qua các giai đoạn của loài động vật cấp thấp ở một số người trong quá trình chuyển hóa phôi đã để lại các vết tích của loài động vật cấp thấp[5]Những di tích còn lại trong quá trình phát triển thai người kể trên thuộc những vết tích thực thể thấy được, ở một số người khác biết đâu lại không thể để lại di tích chức phận hệ thần kinh thực vật có các chức năng phát các sóng siêu âm, sóng điện từ hoặc sóng âm tần thấp... Chính nhờ các chức năng này, mà một số người có những khả năng tiếp giao với người khác qua trực giác mà ta gọi là giác quan thứ sáu như đọc được ý nghĩ của con người, thần giao cách cảm.[5]Các hiện tượngSửa đổiMa nhậpSửa đổiMa nhập là niềm tin xuất hiện từ quan niệm vạn vật hữu linh có từ thời xa xưa, khi cho rằng mọi thực thể trong vũ trụ, dù là con người, động thực vật hay ngọn núi, con sông - đều có linh hồn điều khiển hành vi.[6] Và một linh hồn mạnh mẽ hơn sẽ có khả năng "nhập" và điều khiển một linh hồn yếu ớt.[6] Một số nhà dân tộc học cho rằng, vạn vật hữu linh và quan niệm ma nhập có vai trò gắn kết các cá nhân trong một nhóm xã hội, khi sự chia sẻ niềm tin siêu hình đóng vai trò chất keo kết nối, đồng thời tạo ra mối lo sợ có lợi cho đạo đức xã hội.[6][7]Ở mức cá thể, giới tâm lý học xem ma nhập là ví dụ điển hình của trạng thái ý thức phân ly.[6] Nó có thể xuất hiện do sự kết hợp giữa các cảm xúc mạnh, điều kiện xã hội, ý muốn cá nhân, sự ức chế kéo dài và những hoạt động bất lợi của não dưới ảnh hưởng của một kích thích lặp kéo dài.[6] Và một thay đổi đột ngột, dường như ma quái xuất hiện ở cảm giác, trí nhớ, cảm xúc, động cơ, cũng như ở hành vi tự điều khiển và cách cảm nhận thế giới bên ngoài.[6][7]Mộng duSửa đổiMộng du được coi là một biểu hiện của chứng rối loạn giấc ngủ parasomnias, là những hành vi bất thường xảy ra trong lúc ngủ. Một số rối loạn phổ biến liên quan đến giấc ngủ là đái dầm, nói mớ và nghiến răng. Một cơn mộng du thường kéo dài từ vài giây cho đến nửa giờ.[8] Người bị mộng du có thể mở mắt nhưng đôi mắt hoàn toàn vô hồn và biểu hiện trên khuôn mặt cũng trống rỗng.[8] Nhìn họ giống như đã thức giấc nhưng những hành động lại vụng về kì quặc. Hành động của họ cũng khá đa dạng, có thể chỉ đơn giản như ra khỏi giường và đi loanh quanh trong nhà, đến phức tạp hơn như lái xe hoặc chơi một nhạc cụ.[8]Những người lớn mắc tật mộng du đa số đều đã từng bị mộng du khi còn nhỏ. Mộng du rất hiếm khi đột ngột xuất hiện ở tuổi trưởng thành, nếu có, đó là biểu hiện của những rối loạn khác. Trẻ em có khuynh hướng mộng du cao khi chúng bị mệt mỏi hay căng thẳng.[8] Tác nhân gây mộng du ở người lớn cũng tương tự như vậy, ngoài ra còn do tác dụng phụ của một số loại thuốc, do rượu bia, hoặc do chứng sốt.[8]Ngoài mộng du, còn một hiện tượng rối loạn giấc ngủ khác các hành vi tình dục trong lúc ngủ sleepsex hay sexsomnia.[8]Bóng đèSửa đổiBóng đè là hiện tượng rất phổ biến, thường xảy ra khi cơ thể rơi vào trạng thái ngủ. Nhiều tài liệu nói rằng khi mọi người ngủ có đến 40% đã bị bóng đè.[9] Nhưng nếu căn cứ vào các triệu chứng và thống kê tỷ mỉ với thời gian đủ lớn thống kê cho cả đời người thì phải đến trên 80% dân số đã trải qua trạng thái bóng đè- có điều, sau khi ngủ dậy, nhiều người bị rơi vào quên hoặc không chú ý nên không nhận ra.[9]Hiện tượng bóng đè tuy không có tổn thương thực thể, nhưng gây bức xúc về tâm lý.[9] Bóng đè có thể diễn ra trong vài phút nhưng cũng có thể lâu hơn 30 phút. sau khi kết thúc hiện tượng bóng đè, họ sẽ cảm thấy toàn thân mệt mỏi, rã rời và ướt đẫm mồ hôi.[9] Bóng đè thường xảy ra trong giai đoạn cuối của giấc ngủ. Khi bị bóng đè thì bạn tạm thời bị bất động là do một cơ chế bảo vệ đã ngăn cản hệ vận động, không cho hệ thực hành mệnh lệnh của vỏ não đã ban ra trong giấc mơ. Nó giống như hệ thống rơle tự ngắt vậy.[9]Có người cứ ngủ đến khoảng nửa đêm là bị bóng đè không sao nhúc nhích được, cứ cố vùng vẫy thì lại càng bị 'giữ chặt'. Có những người bị rơi vào cảm giác như thấy mình bị rơi từ trên cao xuống vực, hoặc thấy bị ai đó bóp cổ, bị chó đuổi, rắn tấn công...muốn chạy mà không nhúc nhích nổi.[9] Có người khi bị bóng đè cảm thấy như nghe có sức mạnh đè lên người mà không thể nào đẩy ra được, khó thở, có khi bị ảo giác nhìn thấy những hình ảnh khủng khiếp, hoặc nghe được âm thanh bí ẩn. Có người còn thấy hình như có ai đó đứng, ngồi bên cạnh hay cảm giác như bị đẩy ngã ra khỏi giường.[9]Thôi miênSửa đổiThôi miên, đó chỉ là một mảnh ghép trong một câu hỏi rộng lớn hơn rất nhiều trí óc của con người hoạt động như thế nào?[10] Chưa có gì đảm bảo rằng những nhà khoa học sẽ tìm ra lời giải đáp trong tương lai gần, bởi thế, đây vẫn là một bí ẩn chung. Thôi miên, theo tâm thần học, được định nghĩa như một trạng thái tinh thần được đặc trưng bởi trí tưởng tượng, sự tập trung và sự thư giãn được đẩy lên cao độ. Đối tượng được thôi miên họ không phải là nô lệ của kẻ thôi miên, trái lại, ý chí của họ hoàn toàn độc lập. Và họ thực sự không chìm vào trạng thái mơ màng thôi miên chính là lúc sự tập trung của họ được đẩy lên cao nhất.[10]Ngoại cảmSửa đổiMột số loại khả năng ngoại cảm chính, gồm có Khả năng đọc được suy nghĩ của người khác hay còn gọi là thần giao cách cảm. Khả năng quan sát thấy các sự kiện hay vật thể ở nơi khác hay còn gọi là thấu thị hay thiên nhãn thông. Khả năng biết trước tương lai.[11] Khả năng nhìn vào quá khứ xa xôi. Khả năng giao tiếp với người đã chết. Khả năng xác định đượcthông tin về một người hay địa điểm bằng cách chạm vào một vật thể có liên quan tới đối tượng cần tìm hiểu.[11]Những nhà ngoại cảm có bộ não bắt sóng tốt hơn những người khác.[11] Loại sóng được nhắc đến ở đây là một loại sóng điện từ đặc biệt mà khoa học chưa phát hiện ra. Sóng này lưu giữ những ký ức, hình ảnh của một người và nếu não người bắt được những sóng này sẽ cho phép các nhà ngoại cảm thấy được ít nhiều những ký ức đó.[11]Ngày nay, nhiều người tin vào lời lý giải mới của các nhà khoa học rằng ngoại cảm vượt ra ngoài thế giới vật chất thông thường. Nó tồn tại ở một không gian đặc biệt, hay còn được gọi là thế giới tâm linh - nơi vượt ra ngoài biên giới của những lý thuyết và định lý vốn có.[11] Sự khác biệt về không gian và thời gian giữa thế giới vật chất thông thường và thế giới tâm linh cho phép con người đọc được suy nghĩ của người khác hay dự đoán về những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai ở thế giới vật chất.[11] Hiện tại chúng ta vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn sự tồn tại của khả năng ngoại cảm. Mỗi người đều có lý lẽ riêng để giải thích cho quan điểm của mình[11]Thần giao cách cảmSửa đổiLinh cảm hay còn gọi là linh tính, thần giao cách cảm là giác quan thứ 6, nhờ nó người ta có khả năng tiếp nhận những thông tin từ khoảng không vũ trụ, từ thế giới vô hình.[12] Linh cảm sớm mách bảo con người việc nên làm hoặc nên tránh. Rất tiếc nhiều người cố tình làm ngơ hay cưỡng lại những điều mách bảo của linh tính để khỏi hồi hộp, lo âu, ném chặt nó vào tiềm thức, và thế là cái vũ khí trời cho cổ xưa nhất để tự vệ, mà con vật nào cũng có, bị chôn sâu, lèn chặt và trở lên vô dụng.[12]Ngoài trí thông minh, sự khéo léo kỹ thuật, con người còn có những khả năng đặc biệt trong lĩnh vực thông tin từ xa. Đó là quan hệ giữa các cơ thể sống, là quan hệ của trường sinh học, có thể truyền từ xa, rất xa mà không bị cản. Trường sinh học ở dạng hào quang mang thông tin về con người phóng chiếu ra không gian vũ trụ để giao tiếp từ xa gọi là thần giao cách cảm.[12]Việc con người linh cảm, thấy trước sự việc là do hệ thần kinh thực vật nằm ở đáy não là cơ cấu của vô thức.[12] Con người ta khi chết cơ cấu tiếp tục hoạt động lâu nhất chính là thần kinh phó giao cảm của hệ thần kinh thực vật. Chính thần kinh giao cảm thần kinh thực vật hoạt động trong giai đoạn đó và thần kinh phó giao cảm tiếp nhận thông tin ấy khi nhắc đến kỷ niệm xưa yêu quý thì người ta có thể tỉnh lại được.[12]Chữa bệnh bằng tâm linhSửa đổiTheo nhiều Giáo sư ở Viện Hàn lâm khoa học Pháp cho biết, những thổ dân chữa bệnh không cần thuốc, như tại Philippin, nhiều nhà phẫu thuật đã dùng loại năng lực thuộc lĩnh vực tâm linh để giải quyết thành công các ca phẫu thuật. Có người cho rằng họ là con cháu của những người thuộc bộ lạc Kahyna đã mai một. Họ đã hòa tâm hồn vào vũ trụ cùng với biển cả bao la, lại không bị vật chất ràng buộc nên trí óc họ sáng và dễ thu nhận những sự kiện huyền diệu thuộc lĩnh vực tâm linh chan hòa trong vũ trụ tự nhiên[4]Các hiện tượng khácSửa đổiVấn đề máy ảnh. Những quả cầu ánh sáng không thể nhìn thấy bằng mắt thường mà chỉ xuất hiện trong các bức ảnh, được cho là linh hồn của những người quá cố. Nhà nghiên cứu Skeptic Brian Dunning nói rằng khi một hạt bụi hoặc động vật nhỏ quá gần với máy ảnh, nó sẽ hiện ra trong các bức hình dưới dạng một vòng tròn mờ ảo, cộng thêm hiệu ứng từ ánh đèn flash khiến quả cầu phát sáng, gây nên sự hiểu nhầm thường thấy.[13]Điểm lạnh. Đây là hiện tượng đáng sợ khi một người nào đó đang đứng trong nhà thì đột nhiên cảm thấy có khí lạnh xung quanh. Tuy nhiên, nếu người đó bước sang trái hay sang phải vài bước thì nhiệt độ trở lại bình thường, các nhà cận tậm lý gọi đây là điểm lạnh. Theo những người tin vào thuyết cosma, điểm lạnh xuất hiện khi con ma xuất hiện trong lớp không khí mỏng. Con ma cần năng lượng để hiện hình, nó thu hút nhiệt từ môi trường xung quanh và mọi người sợ hãi khi nhìn thấy chúng. Tuy nhiên, các nhà khoa học có một lời giải thích đơn giản hơn. Khi những người hoài nghi điều tra ngôi nhà bị ma ám, họ thường tìm thấy không khí mát mẻ vào ngôi nhà thông qua ống khói hoặc cửa sổ. Nhưng ngay cả khi căn phòng khép kín vẫn có lời giải thích hợp lý. Nếu một khối không khí khô đi vào căn phòng ẩm ướt, khối không khí khô bay dưới thấp kết hợp với khối không khí ẩm hơn trên trần nhà sẽ tạo ra một dòng khí xoáy đối lưu. Người đứng ở đó có ấn tượng về một điểm lạnh vì làn da cảm thấy mát hơn.[13]Thuyết tự trong những nỗ lực lâu đời nhất của con người là muốn giao tiếp với thế giới tâm linh. Các pháp sư của nhiều tôn giáo cổ xưa được xem là kênh thông tin giao tiếp với người đã mất. Bằng cách xóa bỏ hết suy nghĩ, kết nối với một số loại ý thức vũ trụ, họ nói rằng có thể nghe được âm thanh bí ẩn từ một linh hồn sống ở nhiều thế kỷ trước hoặc để linh hồn chiếm đoạt thân xác của mình. Pháp sư John Edward đến từ Long Island, New York, Mỹ cho biết ông có thể nói chuyện với người đi xuyên qua thời gian, pháp sư Knight khẳng định có thể giao tiếp với Ramtha, một linh hồn năm tuổi từ lục địa bí ẩn Atlantis. Một số nhà khoa học đã đưa ra thuyết tự động để giải thích vấn đề trên. Đây là một trạng thái thay đổi của ý thức, khi con người nói và suy nghĩ những điều họ không nhận thức được. Nói cách khác khi một người tự điều chỉnh, xóa bỏ suy nghĩ trong đầu thì những hình ảnh, ý tưởng ngẫu nhiên có thể phát sinh và họ cho rằng những suy nghĩ này đến từ thực thể khác[13]Cơ học lượng tử. Tiến sĩ vật lý Stuart Hameroff, Giám đốc của Trung tâm Nghiên cứu ý thức tại Đại học Arizona, Mỹ và người bạn của ông tên là Roger Penrose đưa ra giả thuyết rằng, ý thức của con người xuất phát từ vi cấu trúc hình ống trong tế bào não. Những ống này chịu trách nhiệm xử lý lượng tử phần hồn của con người về cơ bản. Hameroff và Penrose tin rằng khi con người phảiqua trải nghiệm cận tử, những thông tin lượng tử rời khỏi não nhưng vẫn tiếp tục tồn tại. Đó là lý do tại sao một số người cho rằng mình bay ra ngoài cơ thể hoặc nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.[13] người thợ săn ma sử dụng công nghệ như máy đo ion để phát hiện ra bóng ma, một số nói rằng linh hồn can thiệp vào số ion bình thường trong bầu không khí. Tuy nhiên, ion được tạo ra do tất cả các hiện tượng thời tiết, bức xạ mặt trờiVì vậy, không ai đưa ra được bằng chứng cho thấy sự xuất hiện của ion đồng nghĩa với sự xuất hiện của bóng ma. Điều thú vịlà ion ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến tâm trạng con người. Ion âm có thể khiến con người cảm thấy bình tĩnh và thoải mái trong khi các ion dương gây đau đầu hoặc tạo ra cảm giác tệ hại. Điều này giải thích tại sao những người sống trong ngôi nhà ma ám hay cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, có triệu chứng đau đầu.[13]Sự kích thích điện của não. Nhiều người trên khắp thế giới kể lại rằng họ từng nhìn thấy bóng người lướt qua tầm mắt rồi lập tức biến mất. Họ tin đó là ma quỷ hay linh hồn người quá cố. Tuy nhiên các nhà khoa học Thụy Sĩ đã tìm ra bằng chứng để lý giải hiện tượng trên. Nhóm nghiên cứu tiến hành kích thích điện não vùng đỉnh thái dương trái của một bệnh nhân nữ mắc bệnh động kinh. Hiện tượng sau đó thật kỳ lạ, bệnh nhân nói có bóng người ngồi phía sau bắt chước từng cử động của cô. Hiện tượng trên xảy ra do các nhà khoa học kích thích điện vùng não chịu trách nhiệm giúp con người xác định ý thức về bản thân, giúp nhận ra sự khác biệt giữa họ và những người khác. Do đó dẫn đến việc tưởng tượng ra bóng người bắt chước trong đầu. Đây chính là chìa khóa giải thích lý do nhiều người khỏe mạnh và tâm thần phân liệt bắt gặp bóng ma và các sinh vật khác như người ngoài hành tinh khi bộ não hoạt động bất thường.[13]Ứng dụngSửa đổiCông nghệ thần giao cách cảmSửa đổiCông nghệ thần giao cách cảm có thể được sử dụng để truyền tải một thông điệp trí não đơn giản từ người này sang người kia, mà không có bất kỳ giao tiếp nào giữa họ. Nghiên cứu của các chuyên gia thuộc Đại học Harvard Mỹ.[14] Trong những thập niên tới, kỹ thuật có thể được dùng để giúp các bệnh nhân đột quỵ, người bị bại liệt 2 chân nghiêm trọng và các bệnh nhân mắc "hội chứng khóa trong" liệt tứ chi và hầu như tất cả các dây thần kinh, không thể cử động phục hồi khả năng trò chuyện và vận động, nhờ sử dụng bộ não của họ để truyền chỉ dẫn cho người khác hoặc các chi giả.[14]Các binh sĩ một ngày nào đó có thể sử dụng thần giao cách cảm để giao tiếp xuyên qua chiến trường khói lửa, không cần phải dựa vào thiết bị vô tuyến hoặc vệ tinh, vốn dễ bị kẻ thù phát hiện và ngăn chặn. Mọi người cũng có thể tận dụng nó để liên lạc với người thân của mình mà không cần điện thoại.[14]Các chuyên gia thậm chí còn nghĩ tới khả năng, thần giao cách cảm được vận dụng để giúp cảnh sát tìm ra cách đọc trí não của nghi phạm và các hội đồng xét xử có thể đảm bảo nhân chứng đang khai thật trước tòa. Con người trong tương lai thậm chí được kỳ vọng có thể giao tiếp với người chết, nếu y học tìm được cách giúp duy trì sự sống cho bộ não của họ.[14]Tìm mộ liệt sĩSửa đổiCác nhà ngoại cảm có khả năng tiếp xúc với người cõi âm thường được mọi người nhờ tìm mộ hoặc xem dấu vết thi hài của các liệt sĩ đã mất.[15] Có bảy tầng không gian trong cõi siêu linh của những linh hồn. Mỗi tầng không gian là nơi tồn tại của các linh hồn khác nhau tùy thuộc vào việc khi sống, các linh hồn đó là người tốt hay xấu, cái chết của họ là chính đáng hay không chính đáng. Họ tồn tại ở những dạng sóng, ở mỗi tầng không gian thì sự phát tín hiệu của các vong linh cũng khác nhau.[15]Nhà ngoại cảm là người thu nhận thông tin nên phải biết cách chọn lọc để không bị nhiễu.[15] Với những người có khả năng đặc biệt thì muốn tìm mộ được chính xác, phải giữ mình trong sạch để suy nghĩ nhẹ nhàng, thanh khiết về tư tưởng, tâm tưởng, hành động, làm việc bất vụ lợi, vị tha và vô tư, vì cõi âm là cõi của tư tưởng nên tất cả mọi suy nghĩ, tâm ta như thế nào thì vong linh đều biết hết.[15]Chữa bệnh bằng tâm linhSửa đổiCó nhiều phương pháp chữa bệnh bằng tâm linh như truyền năng lượng, khai mở luân xa, chỉ bắt tay hay nghe hát, hay thôi miên, tự ám kỷ và trường sinh học... chỉ cần như vậy thôi là người được điều trị sẽ khỏi[16]Những triệu chứng kín đáo, mơ hồ do người bệnh cảm thấy thì cần biết một là 80% bệnh tự khỏi, hai là niềm tin gần như vô thức là một động năng tinh thần rất mạnh đã phát động ý chí bản năng phục hồi sức khỏe giúp cơ thể tự điều chỉnh và sửa chữa những chệch choạc sinh lý bệnh. Các thầy/ cô chữa bệnh kiểu tâm linh đều có chung một nguyên lý bằng nhiều hình thức biểu diễn khác nhau gây nên một tâm lý tự ám thị của người bệnh, tự mình khởi động cơ chế tự phục hồi sức khỏe cho mình.[16]Nghiên cứuSửa đổiNgày 27 tháng 01 năm 2013, Việt Nam thành lập Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người.[17] Có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng trên một số lĩnh vực phức tạp về mặt khoa học liên quan đến khả năng đặc biệt của con người và phát triển tiềm năng con người bằng biện chứng khoa học hiện đại.[17] Viện hoạt động trên hai lĩnh vực chủ yếu là nghiên cứu và ứng dụng những khả năng đặc biệt của con người vào phục vụ đời sống xã hội[17]Đánh giáSửa đổiCho đến khi nào khoa học sinh học phát triển đến mức có thể điều khiển được để" sinh sản ra được những con người theo ý muốn và đồng 'thời xã hội nhân văn kinh tế phát triển đến mức như chủ nghĩa Mác mong muốn là của cải vật chất xã hội đầy đủ, thừa thãi để thực hiện được khẩu hiệu "Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu thì lúc đó chắc các hiện tượng tâm linh sẽ không còn chỗ đứng bởi vì con người khi đó sẽ không còn nhu cầu về tâm linh[5]Xem thêmSửa đổiKhoa học tâm linhTriết học tâm linhTrường sinh họcLuân xaSiêu linhThần giao cách cảmNgoại cảmHệ giác quanTriết họcChú thíchSửa đổi^ Những chuyện tâm linh huyền bí chấn động Việt Nam 2013.^ Những bí ẩn tâm linh kinh ngạc nhất trong lịch sử thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015.^ Bé 4 tuổi sở hữu sức mạnh tâm linh dị thường?.^ a b Những hiện tượng "tâm linh" khoa học đang lý giải a b c d e f g h i j k l m n o HIỆN TƯỢNG TÂM LINH DƯỚI CÁC GÓC NHÌN.^ a b c d e f Hiện tượng ma nhập trong mắt nhà khoa học.^ a b Giải mã chuyện "ma nhập" làm cho điên loạn.^ a b c d e f Giải mã hiện tượng mộng du.^ a b c d e f g Lý giải về hiện tượng bóng đè dưới góc độ khoa học và tâm linh.^ a b Hiện tượng thôi miên có còn là bí ẩn?.^ a b c d e f g Một số giải thích khoa học về hiện tượng ngoại cảm.^ a b c d e Lời giải nào cho hiện tượng "thần giao cách cảm"?.^ a b c d e f 10 hiện tượng ma quái dưới góc nhìn khoa học.^ a b c d Đột phá về công nghệ tạo thần giao cách cảm.^ a b c d TÌm mộ sai, nhà ngoại cảm nói gì?.^ a b Chữa bệnh kiểu "tâm linh".^ a b c Lễ ra mắt "Viện Nghiên cứu & Ứng dụng tiềm năng con người". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm liên quan Thần linh là những người khi sống thông minh chính trực, làm những việc có lợi cho nước cho dân. Sau khi chết hưởng phước báo làm thần, được người đời thờ cúng, đây là nói về bậc chánh thần. Các thần linh đều có thần thông, ưa xét việc thưởng thiện phạt ác, có thể can thiệp được vào cuộc sống của con người. Do đó người thiện lương thì được thần linh che chở hộ trì, kẻ xấu ác thường bị khinh ghét trách phạt. Sự thật về hạn Tam tai. Hội Long Hoa là gì. Thiên ma là loại ma gì Quỷ thần là gì Âm đức là gì. 10 chuyện Tâm linh có thật. 10 chuyện nhân quả báo ứng có thật. Thần linh là gì, họ là ai? Thần linh có hai hạng Chánh thần và tà thần. Bậc chánh thần thì giữ lòng chân chánh hay giúp đỡ nhân gian. Hạng tà thần tâm niệm quỷ quyệt không chân thật, hoặc đa dâm đa sát, thường làm tổn hại cho người. Nói rộng ra thì như Kinh Địa Tạng liệt kê có vô số thần linh, như Thần Biển, Thần Sông, Thần Cây, Thần Núi, Thần Đất. Thần Ngày, Đêm, Thần chủ mạng vậy thần linh có ở khắp nơi, mỗi vị đều có nhiệm vụ của riêng mình, coi sóc việc thế gian. Đa phần các thần linh như Thành hoàng, thổ địa, thần sông, hà bá.. đều có đức hiếu sinh, ghét sự giết hại. Làm Thần linh có phải là siêu thăng không Hiểu theo thế tục thì làm thần linh gọi là siêu thăng. Nhưng dùng sự thấu hiểu sáng suốt mà quán xét theo quan điểm Phật pháp thì đó chính là đọa lạc. Ấy là vì người thế tục chỉ biết đời thứ hai mà không biết được đến đời thứ ba sau đó. Một khi đã là thần linh, tất phải thọ hưởng những phẩm vật cúng tế. Mà phần nhiều phẩm vật là do người đời sát sinh hại vật mà dâng cúng. Đã thọ hưởng những thứ ấy, ắt đời sau không tránh khỏi đọa vào các cảnh giới địa ngục, súc sinh. Cho nên, người hiểu đạo trong lúc dạy người, phải luôn cảnh giác với mối nguy hiểm tiềm tàng là tái sinh vào cảnh giới thần linh. Phải gấp rút cầu sinh Tịnh độ, xác lập rõ ràng định hướng cho đời mình. Phải thường xuyên phát khởi thệ nguyện rộng sâu. Dựa vào đó mà làm kiên cố thêm nền tảng tâm đạo Bồ đề. Có như vậy thì mới tránh được mối nguy đọa lạc vào cảnh giới xấu ác. Thần linh nếu không biết điều này cũng đọa Địa ngục Những quỷ thần trên cạn dưới nước nói chung. Nếu thọ hưởng những vật do người đời sát sinh mà dâng cúng, đều đọa vào địa ngục. Người thế tục không biết điều này. Mỗi khi gặp phải tật bệnh liền bói toán cầu thần, buông thả làm việc giết hại sinh linh. Việc này càng gây hại thêm cho người bệnh, khiến tội nghiệt chất chồng tội nghiệt. Từ khổ càng thêm khổ mà Thần linh do hưởng đồ sát sinh cúng tế, cũng đọa lạc Tam Đồ. Hạng thần linh này chính thật chỉ là những quỷ quái yêu tinh. Nếu nhờ đến bọn họ ban phước, bảo vệ hay giúp tăng thêm tuổi thọ, rốt cùng đều là chuyện không thể được. Chuyện về Thần linh Cũng đều là thần linh nhưng có vị thọ hưởng máu thịt cúng tế, có vị thì lại ưa chay tịnh. Vị thần linh nào hưởng máu thịt cúng tế, khi hết phước làm thần sẽ đọa vào địa ngục. Đời trước làm người chính trực nên mới trở thành thần. Trong số ấy, người sân hận nặng nề ắt rơi vào chỗ thọ hưởng máu thịt. Người có tâm từ ắt không thọ hưởng máu thịt. Lại nữa, do đời trước làm thiện, bố thí nên mới trở thành thần. Trong số ấy, người không biết đến Tam bảo, chỉ tu việc thiện theo thế gian, ắt phúc đức nhiều hơn trí tuệ, sẽ rơi vào chỗ thọ hưởng máu thịt. Nếu người tin sâu nhân quả, bố thí theo pháp Phật, ắt trí tuệ vượt hơn phúc đức, sẽ không rơi vào thọ hưởng máu thịt Ngài An Thế Cao độ Thần linh Thời Đông Hán, ở Lạc Dương có vị cao tăng là An Thế Cao. Ngài vốn là thái tử của quốc vương nước An Tức, từ nhỏ đã nổi tiếng là người chí hiếu. Ngài thông minh trí tuệ hơn người, đọc hiểu thấu suốt sách vở trong thiên hạ. Thông thiên văn, hiểu rành y học. Có khả năng thông hiểu được ý nghĩa trong âm thanh của các loài chim thú… Ngài An Thế Cao tự kể lại rằng Trong đời trước ngài cũng xuất gia học đạo. Có người bạn đồng tu tính tình nóng nảy sân hận, can ngăn nhiều lần nhưng không thay đổi. Ngài có lời hứa đến đời này sẽ hóa độ cho người ấy. Khoảng cuối đời Hán Linh Đế, ngài quyết định đến Giang Nam hoằng hóa, cũng là để hóa độ cho người bạn đời trước. Ngài đi đến một cái miếu ở hồ Động Đình, nổi tiếng rất linh thiêng. Khách buôn vãng lai đến đó cầu khấn thần linh đều có thể biết trước được hướng gió thuận hay nghịch. Vì thế nên người cầu đảo cúng tế ở đây không lúc nào ngớt. Thần giữ miếu Khi ngài An Thế Cao còn chưa đến, người giữ miếu nghe tiếng thần giữa hư không bảo rằng “Trên thuyền sắp đến kia có một vị cao tăng, nên thỉnh vào miếu.” Người giữ miếu theo lời mách bảo của thần, đón thuyền mời ngài An Thế Cao vào miếu. Cùng đi trên thuyền có hơn 30 người cũng đều đi theo. Khi vào miếu liền nghe tiếng thần nói rằng “Tôi ngày trước cùng với thầy học đạo, kiếp này tôi làm thần ở miếu này. Trong phạm vi ngàn dặm quanh đây đều do tôi cai quản. Nhờ đời trước tu hạnh bố thí nên đời này được hưởng phước rất lớn. Nhưng do tâm nhiều sân hận nên phải đọa trong cảnh giới quỷ thần. Mạng tôi nay sắp dứt, chỉ còn trong sớm tối. Do những người vì tôi cúng tế cầu đảo thường giết hại sinh linh, nên tôi sợ rằng sau khi chết không khỏi đọa vào địa ngục, xin thầy từ bi cứu độ. Tôi có được ngàn cây vải lụa cùng nhiều đồ vật quý báu ở đây. Xin thầy vì tôi dùng những thứ ấy lo việc phụng sự Phật pháp.” Độ Thần Linh siêu thoát Ngài An Thế Cao bảo thần hiện thân gặp mặt, thần nói “Thân hình tôi cực kỳ xấu xí, nếu hiện ra nhất định sẽ làm hại mọi người ở đây vì kinh sợ.” Ngài Thế Cao nói “Không sao, mọi người đã biết, sẽ không lấy làm sợ hãi đâu.” Thần liền từ phía sau điện thờ hiện thân. Đưa phần đầu ra, thật là một con mãng xà cực lớn, không biết được phần thân với đuôi dài đến mức nào. Mãng xà bò đến sát bên gối của ngài An Thế Cao. Ngài hướng về phía mãng xà tụng chú, rồi dặn dò dạy bảo nhiều điều. Mãng xà lắng nghe rơi lệ như mưa, thân hình sau đó dần dần biến mất. Ngài An Thế Cao nhận lấy vải lụa và những vật quý của thần miếu đã gửi gắm rồi từ biệt ra đi. Ngài mang những thứ ấy vì thần miếu mà xây dựng ngôi chùa Đông Tự. Hồi hướng phước báo cho thần linh trong miếu sớm tái sinh cõi lành. Chẳng bao lâu sau, ngày nọ có một thiếu niên đến quỳ gối lễ tạ trước mặt ngài, sau đó biến mất. Ngài bảo người chung quanh rằng “Đó là thần linh ở miếu hôm trước, nay đã thoát được hình thể xấu xí rồi.” Về sau có người nhìn thấy trong một cái đầm rộng lớn nổi lên xác con mãng xà cực lớn, thân dài nhiều dặm. Chỗ ấy nay chính là Xà thôn thuộc quận Tầm Dương. Phật dạy về cúng tế thần linh Người đời khi có bệnh tật liền giết hại vật mạng, cúng tế thần linh để cầu phúc cho mình. Họ không nghĩ đến việc mình cúng tế thần linh là vì muốn khỏi chết được sống. Lại giết hại sinh mạng khác để mong kéo dài mạng sống của mình. Thật không còn điều gì có thể trái nghịch lòng trời, ngược với lý lẽ hơn thế nữa. Những người chính trực sau khi chết mới được làm thần, vậy lẽ nào thần linh lại có ý thiên lệch riêng tư? Mạng sống thật không thể kéo dài thêm bằng cách ấy. Nhưng nghiệp giết hại tạo ra thì còn đủ không mất, nhất định phải đền trả. Không riêng gì việc cầu khỏi bệnh sống lâu, hết thảy sự tế lễ cầu đảo tà thần ác quỷ để mong cầu những điều khác cũng đều như vậy. Cúng tế thần linh cầu đảo là vô ích Kinh Dược Sư dạy rằng “Giết hại muôn loài chúng sinh để cúng tế dâng lên thần linh. Hô gọi yêu ma quỷ quái, cầu xin ban phúc giúp đỡ cho mình. Muốn tăng thêm tuổi thọ, rốt cùng đều không thể. Hết thảy những sự cầu đảo tà thần như giết hại vật mạng cúng tế cầu sinh con. Cầu tiền tài của cải, cầu quan chức bổng lộc. Ví như có được sinh con, được tài lộc, được quan chức, vốn đều là do nghiệp riêng của người ấy mà được, không phải do quỷ thần. Có những lúc ngẫu nhiên được thỏa nguyện, lại cho đó là có sự linh thiêng. Vậy nên niềm tin sai lệch càng thêm kiên cố, lại càng dốc lòng làm việc cúng tế như vậy nữa. Những kẻ rơi vào tà kiến quá nặng nề như vậy thật không thể cứu nổi, đáng thương thay! Nếu quỷ thần không có khả năng tác động đến tuổi thọ dài ngắn của người, thì việc cầu đảo ắt không thể hiệu nghiệm. Người ta thấy có một số trường hợp bệnh nặng, thuốc men đều vô hiệu, đến khi cầu đảo thần linh thì được khỏi ngay. Vì thế mà tự cho là linh thiêng mà chẳng biết rằng Cầu thần được lành bệnh, thì bệnh trước đó có thể là do quỷ thần gây ra. Nhưng tuổi thọ sau khi lành bệnh, chắc chắn không thể nhờ thần linh mà được kéo dài. Cầu đảo rốt cuộc chỉ là mê tín mà thôi Nếu thọ mạng chưa hết, dù không cầu đảo cũng sẽ lành bệnh. Nếu thọ mạng đã hết, dù cầu đảo cũng vô hiệu. Chẳng qua gặp phải những loại tà thần ác quỷ, tham muốn máu thịt, thừa cơ quấy nhiễu đòi hỏi. Kẻ ngu mê chỉ thấy sự trùng hợp ngẫu nhiên rồi tin chắc chẳng nghi ngờ. Thấy người cầu đảo được khỏi bệnh thì cho là nhờ thần linh mà khỏi bệnh. Thấy người cầu đảo rồi vẫn bỏ mạng thì lại cho rằng vì người ấy không cầu đảo sớm hơn nên mới phải chết. Than ôi, hạng người như thế dám chắc rằng đời đời kiếp kiếp về sau sẽ phải sinh làm những con vật tế thần. Kinh Thí dụ có nói rằng “Quỷ thần có thể biết được thọ mạng, tội phúc của con người. Nhưng quỷ thần không thể cứu sống người hoặc giết chết người. Cũng không thể làm cho người trở nên giàu sang hay nghèo hèn. Họ chỉ muốn xúi giục người làm điều xấu ác, phạm tội giết hại. Rồi nhân lúc người bị suy yếu hao tổn tinh thần mà não loạn quấy nhiễu. Mục đích là để được người lập đền miếu thờ phụng, cúng tế.” Thần linh Thổ Địa Thần Thổ địa được tôn là “Phúc đức chánh thần”. Danh xưng này kết hợp bằng bốn từ, chẳng dễ dàng có hay tùy tiện tôn đại. Phần đông những người kém hiểu biết còn lầm Thổ địa với Thần tài, nhưng thực sự không phải thế. Là Thần Thổ địa thì phải hội đủ bốn điều Phải có đủ phúc báu. Phải có đức hạnh. Phải thuộc chánh đạo không tà. Phải là Yếu thần.tức là vị thần rất quan trọng, không thể xem thường. Trong kinh Địa Tạng phẩm mười từng nhắc và xác nhận Nếu người nào ăn chay, tu tốt… thì thần Thổ địa rất hoan hỉ, luôn hộ vệ trú xứ đó hạnh phúc bình an. Bạn phải có đức hạnh tốt, thì quỷ thần mới khâm phục. Nếu đức hạnh thiếu, quỷ thần sẽ khinh chê bạn. Mà quỷ thần dù là hạng thấp nhất đi nữa, họ cũng có ngũ thông, còn chúng ta thì chẳng có thông nào. Điều mà chúng ta cần có là đức hạnh và lòng khiêm cung. Nếu ta tu mà có tâm cao ngạo, khinh rẻ quỷ thần, thì chẳng xứng đáng là kẻ học Phật chân chính. Chuyện về Thần linh Thổ Địa Đại sư Thánh Nghiêm kể lại Khi ngài và đệ tử ở Pháp Cổ Sơn. Lúc đi trên đường có ngang qua một miếu Thổ địa nọ, ngài bèn bước vào xá lễ. Vị đệ tử thấy vậy hết sức bất bình, nói liền – Thưa sư phụ, đây đều thuộc phe đảng của Diêm la vương, chẳng nên dây dưa. Là người học Phật sao có thể xá lễ quỷ thần kia chứ? Ngài Thánh Nghiêm đáp – Người học Phật đối với tất cả chúng sinh cần phải có tâm khiêm cung. Ta lễ kính là vì ông Thổ địa đây cũng là bậc đức cao hạnh quý, hộ trì một phương. Nói xong hai người lại tiếp tục đi, nhưng chuyện xảy ra sau đó rất lạ Khi họ đi qua một thửa ruộng, thì anh đệ tử không cẩn thận bị té nhào xuống. Anh càng cựa quậy lại bị lún càng sâu, không thể nào thoát ra được. Ngài Thánh Nghiêm lập tức hiểu ngay, mỉm cười bảo đệ tử – Con hãy mau mau hướng về Thần Thổ địa sám hối, nói Là Đại thần chẳng nên chấp nhất lỗi người nhỏ mà chi. * Đệ tử làm y lời, thì chân liền bước lên được. Phải biết vị được làm thần Thổ địa không phải là chuyện dễ. Ít nhất lúc còn sinh tiền, đã tạo nhiều phúc đức, làm lợi cho một bá tính. Sau khi chết rồi, căn cứ vào phúc đức, phẩm hạnh sâu dày, mới có thể làm thần Thổ địa. Vì vậy bạn không nên xem thường công đức của Thổ địa. Thần Thổ địa cũng là hộ pháp. Thí như bạn đến một địa phương nọ, tại địa phương này Của người thì người quản, của quỷ thần thì thần linh quản. Mà cai quản chư quỷ thần đây chính là Thần hoàng, Thổ địa. Bạn nghĩ xem, nếu như chúng sinh cõi quỷ không ai quản, chẳng phải chúng sẽ làm loạn lên cả hay sao? Là người học Phật, đối với mọi người cần có tâm khiêm cung lễ độ. Đã quy y rồi, nếu nhìn thấy Thần Thổ địa thì vẫn nên xá chào. Để tỏ lòng cảm tạ ngài đã hộ trì địa phương, khiến phong điều vũ thuận. Cần nên cảm ân và học tập theo gương tốt của Thổ địa, vì ông đã làm việc phúc thiện cho bá tính cả một vùng. Hành xử khiêm cung lễ độ như vậy mới là tô bồi thêm phúc đức cho mình. Điểm này rất quan trọng, không nên quên. Quy y Tam bảo Là quy hướng, nương về Tam bảo. Còn cung kính đối với Thổ địa, là cảm ân ông. Phải biết chuyện xá lễ tuyệt đối không thể thay thế cho quy y, không phải là quy y ông. * Sống phải biết cung kính và cảm ân, đây chính là nhân cách cần có của con người. Chúng ta không nên kiêu căng khinh mạn. Vì cống cao ngã mạn là điều đại kỵ với người học Phật. Mỗi vị Phật đều có danh hiệu biểu trưng như Phật là Vạn đức trang nghiêm, Bồ tát Quan Âm là Từ bi. Bồ tát Địa Tạng là Hiếu thuận, ngài Văn Thù là Trí tuệ. Thần Già lam là Trung nghĩa, còn Thổ địa thì là phúc đức chánh thần vì ông có phúc báu lẫn đức hạnh. Chúng ta xá chào Thổ địa, không phải để cầu xin chi, mà chỉ là muốn làm giống như ông, học hạnh phụng hiến. Là chúng ta muốn tri ân ông mà thôi. Nên cung kính cảm tạ Thần hoàng, Thổ địa, đó là thể hiện lòng tri ân. Thần linh là gì – Theo An sĩ toàn thư Tuệ Tâm 2020.

chân linh là gì